THUYẾT TRÌNH NGÀY LỄ PHẬT ĐẢN
TẠI LINDEN MUSEUM, ĐỨC QUỐC, 5-2025
Nam mô Bổn sư Thích ca mâu ni Phật
Kính bạch chư Tôn Đức,
Kính thưa quý thân hữu,
Trước nhất, chúng tôi xin trân trọng chào mừng quý vị đã hiện diện ngày hôm nay để chúng ta cùng tưởng niệm Đức Phật Thích Ca, vị Thầy cao quý của chúng ta. Ngài đã đến cõi đời này trong mùa xuân tại vườn Lumbini, ngài đạt vô thượng chánh đẳng giác trong một đêm mùa xuân tại rừng cây bồ đề ở Bodh Gaya, và ngài nhập diệt cũng trong một đêm mùa xuân tại khu rừng cây sa la ở Kushinagar. Ba sự kiện này đều xuất hiện trong tháng Vesak theo lịch xưa của Ấn Độ. Hôm nay chúng ta cùng nhau nhắc lại những sụ kiện quan trọng trong cuộc đời của ngài để tưởng niệm đến công đức của ngài đối với chúng ta. Và chúng ta rút ra được những bài học gì từ những kinh nghiệm thực tế của ngài.
Ngài là một con người có thật, khoảng giữa thế kỷ thứ 6 sang đầu thế kỷ 5 trước công nguyên. Đức Phật Thích ca là vị Phật lịch sử duy nhất của thời đại nhân loại chúng ta.
Đây là những chi tiết trong sử liệu, chứng minh ngài là một người có thật, không phải là 1 vị thần linh.
1. Gia thế của ngài:
Quê hương Ngài là kinh đô Kapilavatthu, một dãy đất phì nhiêu dọc theo chân dãy núi Himalaya, biên giới Ấn độ- Nepal,
Ngài tên là Siddhattha, dòng họ gia đình là Gotama.
Cha ngài là Suddhodana, cai trị bộ tộc Sakka tại Kapilavatthu.
Mẹ ngài là bà hoàng hậu Māyā, quê hương bà nay thuộc Nepal.
Vợ là công chúa Yasodhāra, con trai là Rahūla.
2. Rời khỏi gia đình, đi tu tập :
Kết quả của 6 năm tu tập này là :
3. Nhớ lại kinh nghiệm lúc còn nhỏ:
bấy giờ, ngài đi khất thực trở lại, sức khỏe lần lần phục hồi. Tâm thanh thản. Ngài chợt nhớ lại : lúc còn nhỏ, khỏang 10 tuổi, khi vua cha xuống ruộng làm lễ cày cấy cho cả nước, ngài một mình ngồi bên đường, dưới bóng mát cây jambu, một buổi sáng mùa xuân, cây cảnh xanh tươi, hít thở không khí trong lành, tâm ngây thơ trong sáng, ngài chợt thấy thân tâm nhẹ hẫng thênh thang, tĩnh lặng vô cùng. Nhẹ khép mắt, cảm nhận hỷ lạc tràn đầy. Thời gian đi qua, vua cha trở lên, đảnh lễ thái tử, đang nhập định.
4. Chứng ngộ Bốn tầng Thiền:
Trong khu rừng hoang, ngài chọn 1 gốc cây cổ thụ pipphala, rồi ngồi xuống, tĩnh tâm. Dòng sông tâm của ngài tuôn chảy từ trạng thái hỷ lạc tràn đầy, chuyển sang trầm lặng hơn, chỉ còn an lạc, sự an lạc nhẹ nhàng rồi tiến sang thanh thản, không cảm thọ khổ lạc hay hỷ ưu. Tâm thực sự rỗng rang, khách quan và tĩnh lặng bất động. Sau 4 tầng thiền, cuối cùng, Ngài nhận ra :
5. Khoảng mấy ngày sau, vẫn còn ở tại Bodh Gaya, ngài chứng ngộ thêm lần thứ 2. Đó là nhận ra Y DUYÊN TÁNH / Dependent Origination của thế gian (Idapaccayatā).
Chúng ta tạm trình bày những chân lý như sau :
Thuộc về Hiện tượng học / Phenomenology
Thuộc Bản thể học / Ontology.
Bấy giờ ngài được người đời tôn là Vô thượng chánh đẳng giác / Anuttara Sammā Sambodhi, là quả vị Phật.
6. GIÁO HÓA:
trong suốt 45 năm, ngài đã đi giáo hóa nhiều nơi miền bắc xứ Ấn Độ thời đó, gặp gỡ nhiều hạng người đủ thành phần, giai cấp khác nhau. Ai đến với ngài cũng được lợi ích, an vui. Giáo pháp của ngài về sau được ghi lại thành kinh điển, xưa nhất là kinh tạng Nikāya, bằng tiếng Pāli. Chúng ta có thể tạm chia ra 2 thành phần:
1. Những chân lý khách quan, thường hằng trong thời gian và không gian, vận hành tất cả thế gian. Chúng ta đã có nhắc tới, đó là:
2. Những phương pháp tu học do đức Phật giảng dạy: tứ diệu đế, tứ niệm xứ, thất giác chi, tam học: giới- định- tuệ, tam tuệ: văn- tư- tu v v…
Ngài nhập diệt năm 80 tuổi.
Chúng ta mới vừa nhắc lại những sự kiện quan trọng trong cuộc đời của đức Phật, sau đây chúng tôi xin trình bày ngắn gọn vài nhận định sau cùng:
Trước khi dứt lời, chúng tôi xin gởi đến quí vị lời chúc tốt đẹp nhất: thân và tâm an lạc, tuệ phát huy, viên mãn con đường giác ngộ. Đó là chúng ta dâng lên đức Phật tấm lòng tri ân cao thượng của mình.
Nam mô bổn sư Thích ca mâu ni Phật.